5 nguyên nhân chính dẫn đến bệnh ung thư vú ở phụ nữ trung niên

0

Thường xuyên tiếp xúc với các tia phóng xạ, tiền sử gia đình mắc ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng, không có con hoặc có con muộn…là những nguyên nhân chính dẫn đến bệnh ung thư vú ở phụ nữ trung niên

Ung thư vú là nỗi ám ảnh của phụ nữ tuổi trung niên – căn bệnh âm thầm mà rất nguy hiểm. Có tới 18% phụ nữ tuổi 40 chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú, tăng 77% ở tuổi trên 50. Ung thư vú là căn bệnh gây tử vong khá cao cho phụ nữ, đặc biệt là những phụ nữ có chế độ ăn uống nhiều chất béo.

Nguyên nhân của bệnh ung thư vú ở phụ nữ tuổi trung niên

Thường xuyên tiếp xúc với các tia phóng xạ: Những người đã từng xạ trị vùng ngực do điều trị các bệnh ung thư khác củng có nguy cơ mắc ung thư vú cao đáng kể. Nguy cơ này tăng lên theo tuổi của bệnh nhân khi họ đã từng điều trị bức xạ. Nguy cơ phát triển ung thư vú từ bức xạ ngực là cao nhất nếu bức xạ đã được thực hiện trong thời niên thiếu, khi vú vẫn đang phát triển. Xạ trị sau tuổi 40 dường như ít làm tăng nguy cơ ung thư vú hơn.

Tiền sử gia đình mắc ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng: nguy cơ ở những người này cao gấp 4 lần những người khác. Khoảng 5- 10% các trường hợp ung thư vú được cho là do di truyền từ cha mẹ. Ảnh hưởng từ đột biến gen BRCA1 và gen BRCA2 là nguyên nhân khiến 80% những người con của gia đình này mắc ung thư vú. Chúng có xu hướng xảy ra ở những người phụ nữ trẻ và thường tác động đến cả hai vú hơn so với những người mắc bệnh không phải do đột biến gen. Những người phụ nữ này cũng có nguy cơ rất cao mắc các bệnh ung thư khác nhất là ung thư buồng trứng.

Không có con hoặc có con muộn: Phụ nữ không có con hoặc có con đầu lòng sau 30 tuổi có nguy cơ ung thư vú cao hơn một chút. Mang thai làm giảm tổng số của chu kỳ kinh nguyệt đời của một người phụ nữ, nó có thể là nguyên nhân giảm nguy cơ này.

Có kinh trước 12 tuổi hoặc mãn kinh sau 55 tuổi: Phụ nữ có kinh nguyệt sớm (trước tuổi 12) và mãn kinh muộn (sau tuổi 55) có nguy cơ ung thư vú cao hơn. Nguyên nhân là sự tiếp xúc với các hormone estrogen và progesterone ở những người này dài hơn những người khác nên nguy cơ của họ cũng cao hơn.

Người thường xuyên uống rượu và hút thuốc lá: Việc sử dụng rượu rõ ràng là có liên quan đến tăng nguy cơ phát triển ung thư vú. Nguy cơ này tỷ lệ thuận với số lượng rượu tiêu thụ. So với những người không uống rượu, thì phụ nữ uống 2 -5 ly rượu một ngày có nguy cơ mắc bệnh gấp 1,5 lần những người không uống. Việc sử dụng rượu quá mức cũng làm tăng nguy cơ phát triển một số loại ung thư khác.

Ngoài ra, người sử dụng hormone nội tiết lâu ngày và người bị bệnh béo phì, tiểu đường cũng có nguy cơ cao mắc ung thư vú.

Dấu hiệu nhận biết bệnh ung thư vú ở phụ nữ

Bệnh ung thư vú ở phụ nữ trung niên – Triệu chứng và điều trị

–    Núm vú bị loét, chảy dịch màu trong, vàng trong hoặc màu đỏ sẫm giống máu.

–    Núm vú có thể bị co kéo tụt hẳn vào bên trong.

–    Vùng da xung quanh vú nhăn nheo, cảm giác da dày lên như bì lợn.

–    So sánh 2 bên vú thấy màu sắc và hình dạng hai bên khác nhau rõ rệt.

–    Sờ bên vú cảm giác có nhiều u cục lộm cộm bên trong vú hoặc có cục u ở gần nách.

–    Vú luôn có cảm giác căng tức đau, đau ít hoặc nhiều nơi xung quanh vú.

Cách phòng ngừa bệnh ung thư vú ở phụ nữ hiệu quả nhất

–    Khi tới tuổi trưởng thành, nhất là khi bước vào tuổi 25 – 30 tuổi thì bạn nên tự theo dõi kiểm tra vú và kiểm tra sức khỏe theo định kì để phát hiện sớm bệnh ung thư vú.

–    Để phòng bệnh này, ngoài thực hiện lối sống lành mạnh, cần hạn chế thực phẩm chế biến quá kỹ, thực phẩm chứa nhiều đường, chất béo.

–    Tránh xa thuốc lá, giảm rượu bia, các chất kích thích, tránh xa các môi trường ô nhiễm bụi bẩn hoặc nếu phải làm việc ở môi trường ô nhiễm cần đeo khẩu trang và có sử dụng quần áo bảo hộ cẩn thận.

–    Có chế độ luyện tập thể dục, thể thao đều đặn nghỉ ngơi hợp lí để có sức khỏe và sức đề kháng tốt.

–    Cho con bú thường xuyên ngay sau khi sinh càng sớm càng tốt, hạn chế cai sữa sớm cho con.

–    Cần ăn những thực phẩm chống oestrogen vì đây là một trong những yếu tố liên quan tới sự hình thành và phát triển khối u vú. Thực phẩm thuộc nhóm này là xà lách, rau cải và những cây rau cùng họ như súp lơ, cải củ… Rau đậu, đặc biệt là đậu tương có tác dụng rất tốt trong phòng bệnh, phòng tái phát và di căn đối với ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng. Ngoài lý do làm giảm lượng oestrogen trong máu, kéo dài kỳ kinh, thực phẩm từ đậu tương còn có tác dụng chống viêm, giảm tân tạo mạch máu ở khối u và giảm hẳn ôxy hoá ở tổ chức.

–    Nên ăn nhiều rau xanh và hoa quả trong khẩu phần hàng ngày. Rau quả là nguồn cung cấp vitamin C, E và caroten (tiền chất của vitamin A). Đây là các chất chống ôxy hoá, giúp phòng chống ung thư. Rau quả và các loại ngũ cốc còn là nguồn cung cấp chất xơ quan trọng. Chất xơ trợ giúp quá trình tiêu hoá, làm tăng nhu động ruột. Nó còn giúp hấp thụ những chất độc có trong ruột để đào thải theo phân, do đó làm giảm nồng độ các chất độc có trong cơ thể.

–    Sử dụng mỡ cá biển, dầu ô liu.

–    Ăn nhiều cá, đặc biệt là cá biển.

–    Chế biến thực phẩm bằng phương pháp luộc, hấp nhỏ lửa và nâu chín tới.

Điều trị bệnh ung thư vú ở phụ nữ trung niên như thế nào?

Bệnh ung thư vú ở phụ nữ trung niên – Triệu chứng và điều trị

Tùy theo từng giai đoạn bệnh mà có cách điều trị thích hợp. Trong đó phẫu thuật là lựa chọn đầu tiên cho việc điều trị bệnh ung thư vú. Có nhiều loại phẫu thuật ung thư vú, cụ thể là:

–    Cắt bỏ khối u.

–    Cắt bỏ toàn bộ vú.

–    Cắt bỏ toàn bộ vú tiết kiệm da.

–    Cắt bỏ toàn bộ vú có tái tạo vú.

–    Sau khi tìm hiểu và lựa chọn phương pháp phẫu thuật, người bệnh sẽ được chuyển sang mức điều trị mới là:

+ Xạ trị: Dùng tia phóng xạ để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại trong vú hay thành ngực sau khi phẫu trị.

+ Hóa trị: Sử dụng thuốc chuyên biệt để tiêu diệt các tế bào ung thư ở bất cứ nơi nào trong cơ thể.

+ Điều trị nội tiết: Sử dụng các hormone nhằm ngăn chặn các chất nội tiết khác gây ra ung thư vú.

Đánh giá bài viết này

Chức năng bình luận đã bị đóng