Thuốc ngậm trị ho gồm những loại nào?

0

Tinh dầu bạc hà, khuynh diệp, gừng, cam thảo, ma hoàng, quế với các biệt dược: Bổ phế, Ma hạnh, Fisherman… Vì có tinh dầu nên các thuốc này dễ tạo ra cảm giác mát họng, thông mũi, giảm kích thích tại chỗ.

Tìm hiểu về thuốc ngậm trị ho

Việc sử dụng các thuốc ngậm trị ho tại chỗ là một trong những cách điều trị ho mang lại hiệu quả khá cao. Tuy nhiên, chúng chỉ có tác dụng hỗ trợ.

1. Thuốc ngậm trị ho tại chỗ được chia ra 3 loại chính:

Loại có chứa kháng sinh như neomycin hoặc các kháng sinh đa peptid khác (bacitracin, benzakonium, tyrothricin).

Các chế phẩm này thường được chỉ định trong trường hợp ho do bội nhiễm ở đường hô hấp trên, các viêm nhiễm vùng hầu họng.

Thuốc có tác dụng phá vỡ vách tế bào của vi khuẩn làm cho vi khuẩn không phát triển được, dễ bị tiêu diệt bởi kháng thể của người bệnh.

Các thuốc chứa những hoạt chất này đang có trên thị trường là Oropivalon, Lysopain, Dorithricin, Mekotricin, Tyrotab…

a. Loại chứa hoạt chất giảm ho

Như dexthrome – thopan. Thuốc tác động trực tiếp lên trung khu ho ở não, làm ức chế phản xạ ho. Loại này thường được chỉ định cho bệnh nhân ho khan kéo dài.

b. Loại thuốc phối hợp nhiều hoạt chất như:

Tinh dầu bạc hà, khuynh diệp, gừng, cam thảo, ma hoàng, quế với các biệt dược: Bổ phế, Ma hạnh, Fisherman…

Vì có tinh dầu nên các thuốc này dễ tạo ra cảm giác mát họng, thông mũi, giảm kích thích tại chỗ.

Chúng thường được chỉ định cho những bệnh nhân bị ho do dị ứng thời tiết, khói bụi hoặc bệnh nhân bị ngạt mũi, sổ mũi cũng như có các nhiễm trùng nhẹ ở vùng hầu họng.

Nguyên nhân gây ra phản xạ ho rất đa dạng, do đó việc chữa trị nguyên nhân là khâu quan trọng nhất.

Tìm hiểu về thuốc ngậm trị ho

Tìm hiểu về thuốc ngậm trị ho

Tham khảo: Công dụng chữa bệnh gan hiệu quả bằng cây kế sữa

Các thuốc dùng để ngậm tại chỗ chỉ là điều trị hỗ trợ. Với những trường hợp có triệu chứng nặng hoặc dùng thuốc ngậm không thuyên giảm thì bệnh nhân cần được bác sĩ thăm khám kịp thời để được chỉ định phù hợp.

2. Làm thế nào để ngưng ho?

Khi vào mùa cảm cúm, bạn thường xuyên bị ho và bạn rất khó chịu với những cơn ho này. Bạn có thể làm dịu những cơn ho của mình bằng một số mẹo vặt sau đây:

–    Uống nhiều nước

–    Xông hơi. Bạn ngồi trong phòng xông hơi hoặc bình xông hơi

–    Dùng một ít nước mật ong pha với chanh

–    Khi ngủ nên gối thấp để kiểm soát những cơn ho

Nếu sau vài ngày mà không khỏi thì bạn nên đến bác sĩ.

3. Quả mơ giải nhiệt, chữa ho

Cây mơ có nơi còn gọi là cây mai, ra hoa vào cuối mùa đông, quả chín vào tháng 3 – 4. Mặt ngoài quả có lông tơ mượt như nhung; khi chín màu vàng đậm, mùi thơm đặc trưng dễ chịu.

Quả mai chín được chế biến thành ô mai (mơ đen) hay bạch mai (mơ trắng). Quả chứa nhiều axit, caroten, vitamin C, vitamin B1, tanin, lycopen, pectin.

Chúng kích thích quá trình chuyển hóa ôxy trong tế bào, làm cho tế bào chóng hồi phục, chậm lão hóa.

Cây mai không những là một cây hoa mang sắc thái mùa xuân, hoa nở đúng vào dịp xuân về mà còn là một cây thuốc quý.

Quả được sử dụng làm thuốc trị ho, phiền khát, chữa đau cổ và nhiều chứng bệnh khác nữa.

Theo tài liệu cổ, ô mai trừ phiền nóng, khô miệng, chữa bệnh ho, bệnh lỵ lâu ngày không khỏi, bệnh tê liệt, đau mình mẩy.

Nước ép ô mai dùng chữa khát, trừ đờm, chữa bệnh thương hàn, phiền nóng, bệnh hư lao, nóng trong xương…

Bạch mai có công dụng trừ đờm, chữa bệnh kinh giản, đau cổ, trúng phong, hàm răng cắn chặt, tả lỵ, bệnh phiền khát, băng huyết. Khi dùng bỏ hạt, lấy thịt sao qua.

Ngoài ra khi gai đâm vào thịt, nhai bạch mai, đặt vào thì gai tự lồi ra.

4. Một số bài thuốc đơn giản mà linh nghiệm:

Băng huyết. Lấy ô mai 7 quả bỏ hạt đốt tồn tính. Tán nhỏ, uống với nước cơm ngày 3 lần.

Đại tiện ra máu: ô mai 3 lạng, đốt tồn tính. Dùng giấm thanh nấu thành hồ, viên bằng hạt ngô. Mỗi lần dùng 20 viên. Uống lúc đói, lấy nước cơm làm thang.

Lỵ: Dùng 100 g ô mai bỏ hạt, sao qua, tán nhỏ. Mỗi lần uống 7 – 8 g với nước cơm.

Sản hậu: Ô mai 20 quả, mạch môn 12 g. Cho vào 2 bát nước, sắc lấy một bát để uống.

Ho kinh niên: Dùng thịt ô mai (sao qua), anh túc xác (bỏ gân, sao mật) lượng bằng nhau, tán nhỏ, lúc gần đi ngủ uống 7 – 8 g với mật.

Đại tiện không thông: Lấy gốc cây mai sắc trong nửa giờ, uống xong hiệu nghiệm ngay.

Chức năng bình luận đã bị đóng