Tìm hiệu bệnh giãn tĩnh mạch nông và suy tĩnh mạch mạn tính

0

Bệnh giãn tĩnh mạch nông có 3 điểm chính: Tĩnh mạch giãn là tĩnh mạch nông, tĩnh mạch giãn chạy ngoằn ngoèo (quanh co).

Bệnh giãn tĩnh mạch nông và suy tĩnh mạch mạn tính

Khi thấy xuất hiện ở chân các sợi dây búi tĩnh mạch giãn một cách bất thường (có người quen gọi là sợi gân xanh nổi dưới da, đặc biệt rõ ở người da trắng và mỏng), đó là chứng bệnh giãn tĩnh mạch nông. Tuy nhiên cũng dễ nhầm lẫn với các hiện tượng khác.

Theo định nghĩa cùa Tổ chức Y tế Thế giới thì bệnh giãn tĩnh mạch nông có 3 điểm chính: Tĩnh mạch giãn là tĩnh mạch nông, tĩnh mạch giãn chạy ngoằn ngoèo (quanh co). Tĩnh mạch đó có hiện tượng máu lưu thông theo chiều trái ngược. Với định nghĩa này sẽ loại trừ bệnh giãn tĩnh mạch sâu, bệnh phồng tình mạch, giãn tĩnh mạch trong thể thao (tĩnh mạch chạy thẳng). Giãn tĩnh nông có thể là giai đoạn đầu của suy tĩnh mạch mạn tính, hay các biến chứng loét ở chân.

Bệnh suy tĩnh mạch mạn tính thường gặp, có khoảng 20 – 40% dân số mắc bệnh, số bệnh nhân nữ nhiều hơn số bệnh nhân nam 4 lần, tại TPHCM cho thấy bệnh này cũng khá thường gặp (43,97% gặp giãn tĩnh mạch nông ở người cao tuổi, trong đó có 16,91% bị suy tĩnh mạch mạn tính). Bệnh nhân chỉ nhập viện khi đã có những biến chứng hoặc ở giai đoạn muộn như rối loạn dinh dưỡng, loét chi.

Bệnh giãn tĩnh mạch nông và suy tĩnh mạch mạn tính

Những yếu tố nguy cơ làm giãn tĩnh mạch

–    Nữ giới gặp nhiều hơn: Có thể do một số yếu tố như hormon, mang thai, đứng nhiều, khối cơ ở chi nhỏ, sử dụng giầy dép không thích hợp…

–    Mang thai nhiều lần và gần nhau, làm tĩnh mạch yếu dần.

–    Nghề nghiệp liên quan đến bệnh: Phải đứng lâu, tiếp xúc với nhiệt độ cao ở vùng chân như tài xế, đầu bếp, thợ cắt tóc, thợ dệt, các phẫu thuật viên… , kể cả thói quen ít hoạt động qua lại…

–    Mập do khối ruột gây áp lực ép vào các tĩnh mạch chậu là tĩnh mạch có rất ít van, gây ứ đọng tĩnh mạch chi dưới.

–    Sau phẫu thuật hay gãy xương phải bó bột có thể gây biến chứng do nằm bất động kéo dài như huyết khối và viêm tĩnh mạch huyết khối.

–    Ăn uống ít chất xơ gây táo bón, khi rặn làm tăng áp suất trong ổ bụng.

Xác định bệnh giãn tĩnh mạch nông và suy tinh mạch mạn tính.

–    Phình giãn tĩnh mạch ở chân: Biểu hiện điển hình khi dưới da xuất hiện các sợi hay búi tĩnh mạch giãn, quanh co, chướng căng, nhất là ở tư thế đứng, tình trạng này có khi kéo dài khá lâu, một số trường hợp chỉ được phát hiện một cách vô tình như đi tắm biển.

–    Suy tĩnh mạch mạn tính: Cảm giác khó chịu, nặng chân, đau, vọp bè… các triệu chứng này xuất hiện rõ khi ở tư thế dùng máy Doppler, chụp X-quang tĩnh mạch để có chẩn đoán chính xác.

–    Mức độ suy tĩnh mạch mạn: Dựa vào các triệu chứng lâm sàng, người ta chia suy tĩnh mạch mạn tính thành nhiều mức độ:

–    Độ 0: Chỉ đơn thuần có triệu chứng cơ năng như đã mô tả.

–    Độ 1: Giãn các tĩnh mạch xa, tĩnh mạch lưới, sưng vùng mắt cá chân.

–    Độ 2: Xuất hiện giãn tĩnh mạch rõ, điển hình.

–    Độ 3: Có kèm theo phù nhưng không có những biến đổi của da.

–    Độ 4: Đã có biến đổi của da như sạm da, chàm, xơ mỡ bì.

–    Độ 5: Biến đổi da và có loét tiến triển.

Như vậy dựa trên cách chia độ người ta có thể đánh giá mức độ của bệnh và đưa ra hướng điều trị phù hợp.

Phòng ngừa bệnh

Phương pháp phòng bệnh nhằm chặn dòng máu trào ngược trong tĩnh mạch giãn hoặc làm cho các lực tác động lên dòng chảy của tĩnh mạch được tốt hơn, các biện pháp bao gồm:

–    Giữ tư thế thuận lợi cho lưu thông trong tĩnh mạch như khi nằm nghỉ kê chân cao.

–    Tập cơ mạnh để tạo sức ép cho máu tĩnh mạch đổ về tim, đơn giản như đi bộ, chơi thế thao.

–    Tránh đứng hoặc ngồi lâu quá dễ gây ứ trệ tuần hoàn.

–    Mang băng thun hay tất thun với mức độ ép khác nhau tạo tác dụng hút máu trở về.

–    Tránh béo phì, đây là một yếu tố nguy cơ cho bệnh xuất hiện và tiến triển nhanh.

–    Vận động tập hít thở sâu tạo áp lực hút để máu tĩnh mạch trở về tốt hơn.

–    Ngoài ra còn một số biện pháp luôn luôn tỏ ra quan trọng và cần thiết, mỗi người cần có một cách áp dụng riêng sao cho phù hợp và hạn chế sự tiến triến của bệnh.

Sử dụng băng thun ép

Người ta dùng băng hay tất có chất liệu co giãn và có thể ép vào các tĩnh mạch giãn. Hữu hiệu trong mọi trường hợp có giãn tĩnh mạch nông và được sử dụng chủ yếu vào ban ngày, nhất là khi phải đứng lâu, có thể dùng băng, tất ngắn, tất dài. Băng thun ép có tác dụng:

–    Phục hồi áp suất chênh lệch giũa hai hệ tĩnh mạch nông và sâu thông qua hệ tĩnh mạch nối.

–    Giảm đường kính lòng mạch để tăng khả năng vận chuyển khi nghỉ và khi gắng sức.

Tuy nhiên khi áp dụng gặp không ít khó khăn như không quen mang tất thường xuyên, khí hậu nóng gây khó chịu.

Điều trị bằng thuốc

Những thuốc có tác dụng phục hồi sự luân chuyển máu trong vi qủan, tàng trương lực tĩnh mạch được dùng trong điều trị các bệnh tĩnh mạch, chủ yếu là điều trị các triệu chứng nặng chân, đau, kiến bò, bỏng rát, phù nề, cảm giác nặng chân

Các phương pháp điều trị chích xơ

Được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trong việc điều trị bệnh giãn tĩnh mạch. Mục tiêu của phương pháp là loại bỏ biến chứng trào ngược bệnh lý. Điều trị là tạo sự sang thương trong lớp nội mạc của thành mạch máu, dẫn đến xơ hóa các tĩnh mạch bị giãn.

Phẫu thuật

Phẫu thuật đóng vai trò quan trọng và được sử dụng tương đối rộng rãi. Có nhiều phương pháp phẫu thuật khác nhau trong đó có hai phương pháp chính:

–    Phẫu thuật rút bỏ tĩnh mạch giãn.

Rút bỏ những đoạn tĩnh mạch giãn của hệ lưới, của mạch nhánh. Tại Bệnh viện Bình Dân trong 6 năm (1992 – 1997) có 70 trường hợp giãn tĩnh mạch nông có suy tĩnh mạch mạn được điều trị, trong đó 51 trường hợp được phẫu thuật (72,85%) và 19 trường hợp điều trị nội khoa (26,7%).

Các trường hợp phẫu thuật: là các trường hợp giãn tĩnh mạch nông có suy tĩnh mạch mạn thời gian mắc bệnh kéo dài, ở trên độ III. Sau mổ bệnh nhân được dùng băng ép trong vòng một tháng, kết hợp dùng thuốc.

Các trường hợp điều trị nội khoa: là các trường hợp giãn tĩnh mạch nhẹ, hầu hết cho băng thun ép và dùng thuốc sẽ có kết quá tốt.

Kết luận: Bệnh giãn tĩnh mạch nông khá thường gặp nhưng ít được chú ý. Giải quyết sớm nhóm bệnh này quan trọng nhất là phòng ngừa bệnh tiến triển. Cần điều trị các rối loạn tĩnh mạch ở tất cả các giai đoạn của bệnh và không nên chần chừ để tránh các biến chứng.

Đánh giá bài viết này

Chức năng bình luận đã bị đóng