Công dụng chữa bệnh hiệu quả của cây sim và củ kiệu

0

Ở nước ta, nhân dân vẫn thường dùng búp và lá sim non mỗi ngày 20-30 búp dưới dạng thuốc sắc chữa tiêu chảy, hoặc đi lỵ.

Tác dụng chữa bệnh của cây sim và củ kiệu

1. CÂY SIM

Cây sim là loại cây nhỏ chỉ cao 1-2m, mọc hoang rất nhiều ở vùng rừng núi, nhất là những nơi đồi trọc miền trung du. Cây thường xanh, lá đối nhau, hình bầu dục dài 3-6cm, hoa 5 cánh sắc đỏ, quả hình tròn lúc chín màu tím sẫm có vị ngọt và thơm. Toàn bộ cây sim đều được dùng làm thuốc: rễ chữa bệnh đau tim, lá chỉ đau, tán nhiệt độc, cầm huyết, rút mủ, sinh da non; quả ăn được, làm rượu bổ; nụ chữa tiêu chảy.

*   Làm thuốc bổ. Quả sim dùng để ăn; hoặc để chế rượu như rượu nho, có màu rất đẹp, dùng để uống. Một số nơi còn dùng quả sim chin đồ lên như đồ xôi, rồi phơi khô để dành dùng dần. Phụ nữ sau khi sinh thiếu máu, hoặc người bệnh ốm lâu ngày bị suy nhược cơ thể, thì dùng khoảng 40g sắc uống. Một phương thuốc khác thì đem sắc chung quả sim khô với đậu đen, sâm đại hành, lá dâu non (3 thứ đã sao kỹ) làm thuốc bổ uống bồi dưỡng cơ thể.

Tác dụng chữa bệnh của cây sim và củ kiệu

Tác dụng chữa bệnh của cây sim và củ kiệu

*   Chữa tiêu chảy: ở nước ta, nhân dân vẫn thường dùng búp và lá sim non mỗi ngày 20-30 búp dưới dạng thuốc sắc chữa tiêu chảy, hoặc đi lỵ. Một số nơi còn dùng búp sim phối hợp với búp ổi (hoặc vỏ ổi giộp), riềng, chữa tiêu chảy rất có hiệu quả.

Ngoài ra, người ta còn lấy quả và lá sim tươi giã nát đắp vào nơi bị đau. Hoặc dùng lá sim sắc lấy nước dùng rửa vết thương, vết loét ở ngoài da cho mau lành.

Tham khảo: Cây cần tây giúp điều trị hiệu quả bệnh cao huyết áp ở người già

2. CỦ KIỆU

Kiệu có tên giới bạch, tiểu toán (tỏi nhỏ) tiểu căn toán, dã toán, đại đầu thái tử, hỏa thông… tên khoa học là Allium chinense. G.Don thuộc họ hành tỏi Alliaceae. Kiệu có vị cay, đắng, tính ôn, thông hoạt lợi, thông dương, tán kết, hành khí, giảm đau, an thai, bổ trung, lợi thủy, sinh cơ.

Có thể chế kiệu thành nhiều món ăn khác phối hợp với các loại thực vật hoặc động vật để nấu. Những món ăn có kiệu đều có thể góp phần giúp cơ thể phòng chữa nhiều bệnh.

Một số cách dùng kiệu để phòng chữa bệnh:

*   Thông dương, tán huyết, tức thở, khí trễ đờm tắc có khi đau ra sau lưng: Qua ủy dưa, kiệu bạch tửu: kiệu 10g, qua ủy 15g, rượu 500ml, 2 thứ làm sạch, qua ủy hấp mềm thái lát, kiệu luộc chín. Cho 2 thứ vào túi lụa ngâm vào rượu. Sau 1 tuần uống được, Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20ml có hòa thêm nước đun sôi để nguội.

*   Tức nqực khó thở. Cháo gạo kê nấu với củ kiệu, lấy 15g củ kiêu giã nát, thêm gia vị và nước trộn với 1 bát cháo gạo kê, thêm ít mì chính, dầu vừng để ăn.

*   Sản phụ bị kiết lỵ: củ kiệu xào với bầu dục lợn ăn vài ngày.

*   Sưng đau cơ khớp: Củ kiệu giã nát hòa với giấm, đảo đều hâm nóng đắp lên chỗ sưng đau.

*   Bổ khí, điều hòa nội tạng làm béo khỏe chịu rét: Hằng ngày ăn 15-20g kiệu muối với cơm.

*   Sang lở, chứng gặp nước thì sưng đỏ ngứa tay chân: Kiệu giã nát, xào nóng đắp vào chỗ ngứa.

*   Bỏng lửa, nước sôi nhẹ (không trợt da): Kiệu lột bỏ vỏ ngoài, giã nát, trộn mật phết vào chỗ bị bỏng.

*   Bỗng nhiên ngã hỗn mê, hoặc ngủ trúng gió bất tỉnh: Kiệu giã vắt nước cốt, nhỏ vào mũi (cần kết hợp các biện pháp khác cho kịp thời).

Trong hỗ trợ điều trị ung thư (K):

*   K phổi, K dạ dày. Kiệu 60g, bán hạ 10g, chỉ thực 10g, sinh khương 10g, qua lâu 10g. sắc uống ngày một thang.

*   K tuyến vú: Kiệu 15g, qua lâu 1g, hương nhu 10g, mộc dược 10g, cam thảo 10g, sắc hoặc tán bột uống với ít rượu ngày một thang.

*   K phổi: Kiệu 60g, nước chanh 60ml. sắc nước uống ngày một thang.

–    Kiêng kỵ: Người khí hư không dùng kiệu; người khỏe mạnh cũng không nên lạm dụng ăn nhiều một lúc gây hư tổn khí huyết, nóng gan, đau mắt.

Chức năng bình luận đã bị đóng