Món ngon rắn nướng lá lốt chữa bệnh phong thấp

0

Thịt rắn có mùi tanh. Dùng xương sông, ngò gai, lá lốt để khử mùi tanh. Riêng thịt rắn và lá lốt đều có tính trị phong thấp rất tốt, các rau ngò, xương sông, lá lốt lại có tính tiêu thực, giúp cho thịt rắn dễ tiêu.

Rắn nướng lá lốt –  Bài thuốc trị phong thấp hiệu quả

1. Sơ lược cách làm

Rắn chặt đầu, bỏ đuôi, lột da. Bỏ hết tạng phủ, đừng để sót. Róc lấy thịt, băm vụn với rau ngò gai và xương sống. Vo viên, bọc lá lốt. Nướng.

Món này ăn nóng với các rau thơm.

2. Tính chất

Trước hết chúng ta thử tìm hiểu truyền thuyết rắn mai gầm có mắt thần. Các loài rắn lõm đầu có hai lỗ ở giữa mắt và mũi, bị che khuất bằng một cái vẩy.

Lỗ này có thần kinh đặc biệt bén nhạy với sức nóng, nó có khả năng phân biệt sự sai lệch về nhiệt độ rất nhỏ (khoảng 5/1000 độ) từ xa.

Khi có một con vật ở xa khoảng 10 mét, hơi nóng của con vật đủ báo hiệu cho mắt thần, rắn sẽ xác định ngay được vị trí, đánh giá con mồi qua sức nóng để quyết định tấn công. Có thể coi đó như một loại máy tầm nhiệt tinh vi.

Khi bắt được rắn, cần phân biệt ngay rắn thường và rắn độc. Rắn dùng làm thuốc thường là rắn độc; rắn hổ mang, rắn cạp nong, rắn cạp nia (mai gầm).

Thịt rắn có vị ngọt, hơi mặn, tính ấm, hơi độc, đi vào can kinh. Nó có công năng khử thấp, làm mạnh gân, thịt rắn để trị phong thấp, nhức mỏi, tê liệt.

Còn dùng để chữa cơn co giật, kinh phong, nhọt độc. Rắn có hai bộ phận sinh dục riêng biệt hai dương vật luân phiên hoạt động nên thời gian giao cấu lâu, tạo khả năng thụ thai tối đa ở rắn cái. Do đó rắn có tính bổ thận, làm mạnh và tăng thời gian giao cấu.

Để chuẩn bị tham dự thế vận hội Seoul 1988, đội tuyển hốc cây nữ của Nam Triều Tiên được bồi dưỡng thường xuyên cháo rắn với mục đích làm mạnh gân, tăng sức dẻo dai.

Lá lốt có tên khoa học là piper lolot. Nó có vị cay, mùi thơm gắt, tính ấm, đi vào các kinh phế và tỳ vị. Nó có công năng kiệu vị, giáng khí, thông khiếu và trị phong thấp.

Đông y gọi xương song là hoạt lộc thảo tên khoa học là Blumen myriscephala. Xương sông có vị đắng cay, mùi thơm đặc biệt, tính ấm. Nó có công năng tiêu đờm, tiêu thực, khử mùi tanh chống dị ứng.

Rau ngò gai cũng gọi là mùi tàu, tên khoa học là Eryngium foetidun, họ hoa tán. Có công năng tiêu thực, khử mùi tanh.

3. Bài thuốc

Thịt rắn có mùi tanh. Dùng xương sông, ngò gai, lá lốt để khử mùi tanh. Riêng thịt rắn và lá lốt đều có tính trị phong thấp rất tốt, các rau ngò, xương sông, lá lốt lại có tính tiêu thực, giúp cho thịt rắn dễ tiêu.

Vì thịt rắn là loại protid lạ, dễ gây dị ứng nên có ngay xương sông chống dị ứng.

Đây là một bài thuốc hay, vừa có tác dụng chính đồng vận mà còn ngừa các tác dụng ngoại ý nữa.

Rắn nướng lá lốt – Bài thuốc trị phong thấp hiệu quả

Rắn nướng lá lốt – Bài thuốc trị phong thấp hiệu quả

4. Ghi thêm

1) Mật rắn ngâm rượu đế trị đau lưng và các chứng phong sưng đỏ.

2)  Xác rắn sắc uống hay đốt cháy bôi ngoài da để trị kinh phong trẻ em, đau bụng, thối tai và các bệnh ngoài da.

3)  Máu rắn: Nắm đuôi rắn quay tròn cho máu dồn lên đầu rồi chặt đầu. Cho máu nhỏ giọt vào ly rượu rồi uống ngay. Máu rắn có tính hoạt huyết, trị nhức mỏi, thấp khớp.

4)  Rượu rắn: Nếu có được một bộ 3 con rắn khác loại: 1 rắn ráo, 1 rắn hổ mang, 1 rắn cạp nong là tốt nhất.

Cho rắn còn sống vào bình, đổ rượu cho ngập, ngâm 24 giờ rồi bỏ rượu này đi vì có chất độc. Đem rắn ra chặt, bỏ đầu và đuôi, mổ bụng bỏ hết tạng phủ để lại mật.

Để nguyên da ngâm rượu, đậy kín 100 ngày thì uống được 3 con rắn ngâm được 10 lít rượu. Nếu ngâm thêm các dược liệu: hà thủ ô, huyết đằng, cầu tích, thiên niên kiện, trần bì…

Cần phải dùng rượu có độ cồn cao. Rượu này hơi tanh nên khó uống. Phụ nữ có thai kiêng dùng.

5. Tìm hiểu thêm v bệnh thấp khớp

Thấp khớp là bệnh rất phổ biến ở Việt Nam, nhất là ở tuổi già. Kinh điền Đông và Tây y đều nhiều lần đề cập tới bệnh này.

Xưa kia người ta quan niệm rằng xương sụn là cơ quan trơ; không có mạch máu, do đó nó bị mài mòn bởi vận động và thời gian. Quan niệm này đã thay đổi trong thập niên vừa qua.

Sụn cấu tạo bởi chondroyte nằm trong khung sụn. Khung sụn có thành phần chính là collngen và proteoglycan. Dịch khớp nuôi dưỡng chondrocyte.

Ở cơ thể khỏe mạnh, có sự quân bình giũa phân hủy và tái tạo chondrocyte. Chondrocyte lại tiết ra những enzym phân hủy chính nó.

Ở người già, sự phân hủy trội hơn tái tạo. Sự sinh sản chondrocyte phụ thuộc vào nhiều yếu tố: máu cung cấp đủ chất cần thiết cho dịch khớp, nội tiết, enzym, tuổi tác, môi trường… Sự sinh sản chondrocyte kéo theo sự tổng hợp proteoglycan của khung sụn.

Ở mỗi lứa tuổi, tốc độ tái tạo chondrocyte thay đổi và giảm dần theo thời gian. Càng nhiều tuổi thì tốc độ sinh chondracyte giảm dần, khung sụn suy thoái theo mà hậu quả là chứng viêm khớp trầm trọng hơn.

Khả năng tái tạo của người già suy giảm, tỷ lệ chondrocyte ít hơn, khung sinh thoái hóa. Sự sinh sản chất tăng trưởng FGF (fibroblast grawth facter), một chất kích thích sinh chondmeyte bị trở ngại bởi sự thoái hóa khung sụn. Việc kích thích FGF lại rất nan giải và có liên quan đến oncogene.

Khi dịch khớp yếu kém không nuôi nổi chondrocyte sự tái sinh chondrocyte giảm kéo theo sự thoái hóa khung sụn làm cho khớp sưng đỏ, dễ nhiễm trùng. Khi mà khớp sưng thì tốc độ thoái hóa nhanh hơn.

Việc sử dụng thuốc chống viêm, hạ nhiệt, giảm đau, kháng sinh đều đã trị ngọn.

Từ nhiều năm nay người ta trị thấp khớp bằng corticosteroid để giảm viêm nhưng thuốc này có nhiều phản ứng phụ.

Hai chục năm qua, thuốc “kháng viêm không steroid” đã vượt trội về chất lượng cũng như số lượng. Từ phenylbutanmn các chất này có tính kháng viêm, giảm đau… Chúng có gốc hóa học khác nhau, phản ứng phụ khác nhau… nhưng đều có độc tính cao.

Các thí nghiệm hiện đại nhất cho thấy các chất kháng viêm không steroid ức chế một số phản ứng chuyển hóa. Khởi động hoặc ức chế các enzym gây xáo trộn sự sinh sản và hủy chondrocyte, ngăn cản sự tổng hợp proteglycan của khung sụn…

Như vậy các chất này gây nguy hại cho sụn và lâm bệnh sưng khớp trầm trọng hơn. Việc sử dụng thuốc kháng viêm không steroid để trị thấp khớp bắt đầu bị đả kích.

Các hãng thuốc vội vàng làm các thí nghiệm để bảo vệ sản phẩm của họ, đồng thời phát minh và các chất mới không gây nguy hại cho sụn. Cho tới nay chỉ mới thấy thông báo là Firaxlcam (feldene) không ảnh hưởng đến chondrocyte.

Hiện nay, Tây y chưa tìm được chất nào trị tận gốc căn bệnh này. Một số tác giả chủ trương áp dụng liệu pháp nội tạng, lấy mô sụn động vật, cao sụn.

Các thuốc có tính bổ ích cho mô sụn hiện mới chỉ có vài ba loại và ít thấy ở thị trường Việt Nam.

Ptasclédine 300 có hoạt chất chính là thành phần không xà phòng hóa của dầu đậu nành và avocat. Thuốc này mới được tung ra thị trường năm 1960. Nó giúp cho sự thoái hóa quân bình với tái tạo mô sụn. Sản phẩm của hãng Pharmascience (Pháp).

Specytom được bào chế theo phương pháp sản xuất thuốc chủng ngừa. Người ta tiêm cao sụn và cao tuyến đối giáp trạng (parathyraide) vào ngựa, rồi sau đó lấy globuline trong huyết thanh ngựa, bào chế dưới dạng thuốc đặt hậu môn.

Globuline này làm giảm hoạt tính các enzym phân hủy chondrocyte và khung sụn (proteuz, collagenaz). Specyton tạo thuận lợi cho sự tái tạo mucopolysocharid, tái sinh chondracyte.

Kết quả thử nghiệm lâm sàng do Richerd M. và cộng sự, công bố năm 1987 và 1988 (Gazette medicale, Ehumatologie): mỗi ngày đặt hậu môn một viên sypposiboire, liên tục 3 – 4 tuần, bệnh nhân bớt đau, đi lại dễ dàng, khoảng cách di chuyển dài hơn, thời gian làm hết tê buổi sáng cũng giảm nhiều. Specytion là sản phẩm của hãng Millot – Solac (Pháp).

Các liệu pháp trên làm ta liên tưởng đến cách trị bệnh của đông y.

Đông y quan niệm rằng kinh mạch không thông, khí trệ huyết ứ ở khớp sinh chứng đau buốt, tê dại, sưng nhức.

Phép trị là khu phong, tán hàn, trừ thấp và kèm thêm thông kinh hoạt lạc, hành khí hoạt huyết và trấn thống, cổ nhân có câu: “Trị phong tiên trị huyết, huyết hành phong tự diệt”.

Vậy làm cho khí huyết lưu thông thì dịch sụn có đủ chất bổ dưỡng nuôi chondrocyte và có thêm khả năng chống nhiễm. Tại đây chúng ta thấy đông tây y đã xích lại gần nhau.

Các hãng thuốc đang ganh đua sáng chế ra các chất kháng viêm không steroid có khả năng thấm qua màng túi dịch khớp, có ái lực với mô sụn nhất là với các cơ quan đang sưng… nghĩa là những thuốc có khả năng cung ứng sinh học cao. Điều này lại rất phù hợp với phương pháp bào chế qui kinh của đông được.

Đông cũng như tây y đều muốn hướng thuốc của mình vào cơ quan bị bệnh, dưới hình thức này hay hình thức khác nhưng cùng chung một mục tiêu.

Ngoài bào chế qui kinh, đông y còn xác định tính thăng giáng của vị thuốc. Ví dụ độc hoạt và khương hoạt cũng trị thấp khớp; khương hoạt có tính đi lên nên dùng để trị bệnh ở phần trên cơ thể (vai, tay); độc hoạt có tính đi xuống nên dùng trị thấp ở phần dưới cơ thể. Các thuốc kháng viêm hiện nay chưa đạt được tới khả năng này.

Y  học hiện đại ngày càng đi vào chi tiết; từ cơ quan đến mô rồi tế bào, receptor và phân tử, hiện nay là sự trao đổi ion; để rồi từ các chi tiết li ti đó tổng hợp lại.

Trái lại đông y đi từ tổng thể, từ trừu tượng để giải thích sự việc. Hai quan niệm khác xa nhau, nếu không nói là trái nguợc.

Thế nhưng, qua một số vấn đề bệnh lý và dược lý, chúng tôi thấy rằng càng ngày càng gần nhau hơn. Cách lý giải khác nhau nhưng phương án cuối cùng, nguyên tắc điều trị cuối cùng lại rất gần nhau.

Y  lý, dược lý còn nhiều đề tài để thảo luận. Tôi hy vọng đây chỉ là mục tiêu để khởi động cho cả một hệ thống bao la đang cần sự đóng góp của mọi người.

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng