Kiến thức cơ bản giúp bạn trở thành bà mẹ thông thái

0

Thời kỳ mang thai rất quan trọng với người phụ n, vì vậy người phụ nữ cần được chăm sóc ân cần, tránh mọi sự xúc động mạnh nhất là những bức xúc về thần kinh. Song bản thân người phụ nữ cũng cố gắng chịu đựng duy trì đức tính vui vẻ để vượt qua giai đoạn này.

C. Thời kỳ mang thai

Người phụ nữ từ sau tuổi dậy thì, hàng tháng buồng trứng có một trứng chín rơi xuống đi theo ống dẫn trứng vào tử cung. Nếu không được thụ tinh trứng bị hỏng và không nằm lại tử cung: mà trôi ra ngoài theo đường kinh nguyệt.

Nếu được thụ tinh, trứng sẽ dừng lại ở tử cung làm tổ tại đó. Tử cung cũng chuẩn bị sẵn sàng để đón trứng nghĩa là mỗi tháng nó tạo một lớp màng, nếu không có trứng vào làm tổ thì lớp màng này sẽ tự bóc ra trôi ra ngoài theo máu kinh nguyệt, nếu có trứng thì lớp màng trọng tử cung không bong ra nữa mà sẽ phát triển thành rau thai.

1. Dấu hiệu khi có thai

Người phụ nữ khi có thai có nhiều thay đổi quan trọng kể cả thay đổi về hình thể bên ngoài lẫn các hiện tượng xảy ra bên trong cơ thể. Những hiện tượng đó là do hoạt động thay đổi của các chất nội tiết trong cơ thể, chủ yếu là các tuyến nội tiết về sinh dục tăng cường hoạt động. Đồng thời trong thời gian này sự hoạt động của các cơ quan khác cũng được điều chỉnh lại.

Dấu hiệu

–    Hiện tượng tắt kinh là dấu hiệu rõ nét nhất đối với những người thấy kinh đều hàng tháng. Tuy nhiên đây không phải là dấu hiệu tuyệt đối. Bởi có nhiều phụ nữ kinh nguyệt không đều, tháng có tháng không, hoặc đang trong thời gian cho con bú, không có kinh.

Vì vậy không nên dựa vào triệu chứng kinh nguyệt là chính mà phải kết hợp với những dấu hiệu khác thay đổi trong cơ thể.

+   Dấu hiệu ở vú: Hai vú hơi căng, hạch nách to và đau. Đầu vú và quầng vú thâm, sẫm màu lại. Đó là do tuyến sứa bắt đầu hoạt động,

+   Biến đổi màu da khi có thai: Da hơi sạm lại ở gò má. Da bụng có đường sẫm nhẹ chính giữa, có thể thấy những vết rạn sẫm màu…

+   Dấu hiệu trong ăn uống (hay gọi là nghén): Trong ba tháng đầu khi có thai, người phụ nữ thường thấy chóng mặt buồn nôn, ăn vào lại nôn ra, chán ăn hoặc thèm ăn những quả chua, ngọt, những thức ăn lạ miệng.

Sang tháng thứ tư những triệu chứng trên mất dần, trở lại ăn uống bình thường và ăn tăng dần so với khi chưa có thai.

Có những trường hợp thai nghén kéo dài dẫn đến suy nhược cơ thể, cần phải đi khám chuyên khoa ngay.

2. Những thay đổi của cơ thể khi mang thai

–    Thay đổi về mặt tinh thần: Người phụ nữ khi mang thai thường dể bị kích động, tính tình thay đổi, dễ mệt mỏi sinh ra cáu gắt. Có thể ngủ nhiều hoặc mất ngủ. Điều này là do thay đổi về nội tiết, Người phụ nữ cần được chăm sóc ân cần, tránh mọi sự xúc động mạnh nhất là những bức xúc về thần kinh. Song bản thân người phụ nữ cũng cố gắng chịu đựng duy trì đức tính vui vẻ để vượt qua giai đoạn này.

–    Thay đổi về nhiệt độ, huyết áp; Người có thai thường có nhiệt độ cao hơn bình thường. Huyết áp có thể tăng hoặc giảm nhưng không bao giờ quá giới hạn bình thường. Nếu thấy huyết áp trên 140mm Hg thì cần phải có biện pháp chữa trị. Nếu đi khám thấy có prôtêin trong nước tiểu thì đó là dấu hiệu bị nhiễm độc của thai nghén.

–    Thay đổi về hô hấp: Người mang thai thường thở nông và nhanh do tử cung ngày càng phát triển to lên đẩy về phía trái. Trường hợp thai to hoặc sinh đôi còn làm cho khó thở.

–    Thay đổi về tuần hoàn: Lượng máu trong thời gian có thai thường tăng lên nhưng loãng, hồng cầu giảm, huyết sắc tố giảm làm cho da dẻ xanh xao nhợt nhạt.

–    Phát triển vòng bụng: Tăng dần lên. Đến tháng thứ tư có thể nghe tiếng máy  đập của thai nhi. Nếu thấy thai to bất thường, ra huyết sớm từ tháng thứ hai hoặc thứ tư, huyết đen hoặc đỏ kéo dài, nôn nghén nhiều thì phải đi khám đề phòng trường hợp chửa trứng.

–    Cơ thể tăng cân: Ba tháng đầu thai còn nhỏ sự tăng cân không đáng kể, nhưng sau ba tháng, trung bình mỗi tuần tăng 0,400 kg. Trong toàn thời gian mang thai có thể lên 9 – 10 kg. Trường hợp cơ thể tăng cân quá nhanh, có thể là thai đa ối hoặc thai bất thường, cần phải đi khám để có biện pháp điều trị.

3. Vệ sinh trong thời kỳ mang thai

Mang thai là thời kỳ rất quan trọng và có trách nhiệm trong cuộc đời làm mẹ của người phụ nữ. Khi có dấu hiệu thai nghén, đầu tiên người phụ nữ cần phải đến gặp bác sĩ chuyên khoa để được nghe những lời khuyên và những chỉ dẫn cần thiết để bảo vệ mình và thai nhi.

Trong ba tháng đầu nên đi khám hai lần để thử nước tiểu đề phòng nhiễm độc thai nghén gây sản giật. Sau đó cứ mỗi tháng một lần đi khám thai để theo dõi tim thai và đề phòng thai ngược.

Từ tháng thứ bảy trở đi nên đi khám thai mỗi tháng hai lần. Nếu trường hợp người mẹ mắc những chứng bệnh như tim, thận, huyết áp, đái tháo đường thì việc khám thai lại càng phải nhiều hơn, một tuần một lần.

a. Giữ vệ sinh thân thể

Người mang thai cần luôn luôn giữ vệ sinh thật tốt như giữ da sạch sẽ để làm tăng độ hô hấp của da, thúc đẩy quá trình bài tiết các chất độc khác nhau ra khỏi cơ thể theo đường mồ hôi, giảm nhẹ hoạt động của thân khi người phụ nữ có thai phải làm việc quá tải.

Về mùa hè cần tắm mỗi ngày một lần bằng xà phòng thơm. Mùa đông, mỗi tuần không dưới hai lần tắm bằng nước ấm với xà phòng thơm, không được tắm nước quá nóng, ảnh hưởng đến thai nhi.

b. Giữ vệ sinh cơ quan sinh dục ngoài

Cần phải giữ vệ sinh cơ quan sinh dục ngoài thật sạch sẽ. Điều này rất quan trọng vì nó có thể gây ra một số bệnh nguy hiểm sau đẻ.

Sáng và tối cần phải rửa cửa mình bằng nước ấm đã đun sôi, rửa theo chiều nước chảy, từ phía trước ra phía sau, từ vùng xương mu đến hậu môn để cho vi trùng khỏi đột nhập vào âm đạo từ trực tràng. Không được bơm rửa âm đạo trong thời kỳ mang thai, nếu bác sĩ không cho phép.

c. Chăm sóc vú

Người phụ nữ có thai cần chú ý nhiều tới việc chăm sóc tuyến vú để chuẩn bị cho đứa trẻ sắp ra đời và phòng ngừa các vết nứt, xuất hiện ở núm vú. Hàng ngày phải rửa vú và đầu vú bằng nước ấm với xà phòng dành cho trẻ con.

Sau đó phải nhẹ nhàng lau khô chúng bằng khăn bông. Rửa và lau khô vú và đầu vú phải hết sức cẩn thận để không làm hỏng da.

Nếu đầu vú tẹt và lõm vào cần phải xoa bóp chúng 2 – 3 lần trong một ngày, mỗi lần từ 3 – 5 phút.

Sau khi đã rửa sạch tay, người phụ nữ có thai cầm lấy đầu vú bằng ba ngón tay (ngón giữa, ngón trỏ và ngón cái), cẩn thận kéo chúng lồn lên vài lần.

d. Vệ sinh răng miệng

Nên chú ý vệ sinh răng miệng khi có thai. Chất khoáng nhất là canxi rất cần thiết cho cấu trúc xương của thai. Nếu người mẹ ăn uống không đầy đủ chất trong khẩu phần ăn thì buộc phải sử dụng các chất trong khẩu phần dự trữ của mình để nuôi dưỡng thai, vì thiếu hụt canxi trong cơ thể nên rất dễ bị sâu răng.

Ngoài ra chất fluo cũng có tác dụng rất lớn, không những cho trẻ em giai đoạn mọc răng sữa mà còn cho cả người mẹ đang mang thai. Chỉ cần rất ít fluo nhưng thường xuyên trong nước uống là đủ.

Thiếu vệ sinh răng miệng có thể bị sâu răng. Nhiễm trùng răng miệng lại là một nguyên nhân ảnh hưởng tới thận, cần chú ý ăn uống các chất có canxi và uống thêm thuốc có chất canxi và vitamin A, D.

Những điều phụ nữ cần biết trước khi bước vào tuổi làm mẹ (Phần 2)

e. Chế độ ăn uống khi có thai

Chế độ ăn uống của phụ nữ có thai và cho con bú đặc biệt quan trọng. Nó ảnh hưởng trực tiếp tới đứa trẻ. Người phụ nữ có thai phải được ăn uống đầy đủ cả về chất lượng lẫn số lượng.

Thức ăn phải sạch sẽ tránh ươn thối. Nên thay đổi các món ăn để tạo sự ngon miệng và đảm bảo đủ chất bổ, thức ăn phải dễ tiêu, chứa đủ khối lượng chất prôtit, mỡ, hydrat cacbon, muối khoáng và các vitamin, nhất là các vitamin A. D. C. B.

Giai đoạn đầu thời kỳ thai nghén, chế độ ăn uống có thể bình thường nhưng thức ăn cần đa dạng, tăng lượng vitamin. Nếu khẩu vị có thay đổi thêm ăn đồ chua ngọt… thì cũng không nên tránh. Song cần tránh những thức ăn có vị cay, nóng như dấm, ớt, hạt tiêu, rượu.

Sang giai đoạn từ tháng thứ tư trở đi thai nhi bắt đầu phát triển đòi hỏi rất nhiều các chất dinh dưỡng. Nhất là những tháng gần đến ngày sinh, đòi hỏi người mẹ phải ăn tăng khẩu phần ăn hàng ngày lên so với bình thường.

Tuy nhiên cần chia làm nhiều bữa nhỏ, tránh ăn no quá: Chú ý: khi có thai cần ăn nhiều rau quả và không được ăn mặn. Không được ăn những thức ăn nhiều nước vì sẽ làm tăng sự làm việc của tim, thận, gan và có thể làm xuất hiện chứng phù thũng.

Những loại thức ăn mà người có thai cần dùng là:

+ Rau tươi, quả chín, nước trái cây.

+ Cá, gan, thịt, trứng, dầu thực vật, (thời gian gần đến ngày sinh cần ăn nhiều thịt hơn)

+ Bánh ngọt, mật ong, sữa, sữa chua

+ Bia có thể uống nhưng uống ít.

Các loại thức ăn mà người có thai không nên dùng:

+ Rượu, cà phê, chè, thuốc lá (cấm tuyệt đối)

+ Thịt hộp, thịt ướp muối, ốc, sò…

Cách mặc của người có thai

Cần mặc những loại vải nhẹ, thoáng (sợi bông là tốt nhất) may rộng rãi. Không nên mặc áo lót quá chật. Quần lót không nên dùng loại valide hoặc vải có pha nhiều nilon sẽ gây hăm hoặc viêm nhiễm cửa mình, quần lót phải rộng không nên mặc dây thun quá chật ảnh hưởng tới thai nhi.

Tất chân cũng không nên dùng loại nịt chặt gây ảnh hưởng không tốt tới sự tuần hoàn của máu. Giầy dép của người có thai nên đi vừa không nên đi cao quá sẽ dễ bị trượt chân, sảy thai.

Chế độ làm việc và nghỉ ngơi

Người phụ nữ khi mang thai không nên làm việc quá sức, xách vác nặng, đứng lâu một chỗ, nhất là gần đến ngày sinh. Không nên làm việc quá căng thẳng đến thần kinh. Không nên đi bộ xa hoặc ngồi lâu trên xe mà đường gồ ghề quá xóc…

Tuy nhiên không phải vì thế mà không vận động. Cần có chế độ nghỉ ngơi thật hợp lý sau giờ làm việc. Có thể đi dạo ở những nơi thoáng đãng có nhiều cây xanh, không khí trong lành. Nên dạo chơi vào buổi chiều hoặc trước khí ngủ để tăng lượng ôxy trong cơ thể mà người mang thai rất cần được bổ sung.

Người mang thai rất cần những giấc ngủ ngon, tránh ồn ào và có những tác động về tâm lý. Nên ngủ 8 – 9 giờ trong một ngày đêm. Phòng ngủ phải thoáng đãng, không nên nằm đệm quá mềm, người có thai phải ngủ nghiêng về sườn bên phải.

Khi gần đến ngày sinh, đặc biệt nên dừng làm việc, chỉ nên đi dạo và ngủ nhiều. Tránh xem phim, kịch kích động…

Dùng thuốc trong thời kỳ mang thai

Người mang thai phải cố gắng giữ gìn sức khỏe của bản thân mình, tránh các bệnh nhiễm trùng như cúm, viêm gan, sốt rét… Nhưng nếu bị ốm đau phải hết sức cẩn thận khi dùng thuốc, nhất là thuốc kháng sinh vì có rất nhiều loại thuốc rất dễ qua rau thai làm hại thai nhi.

Ví dụ như: Sl.reptomyxin, gentamyxin, ảnh hưởng tới thận. Clo- r.imphénicol, tifomyxin hoặc cloroxit dễ gây độc cho cả mẹ lẫn thai nhi. Các loại thuốc sốt rét như quinin, clorakin, dùng trong thời gian có thai có thể làm trẻ bị điếc, ảnh hưởng tới hệ thống tạo máu, thiếu máu, dễ gây chảy máu do giảm tiều cầu…

Tóm lại dùng thuốc trong thời kỳ có thai phải hết sức thận trọng, không nên dùng bừa bãi. Trường hợp có bệnh phải hỏi ý kiến thầy thuốc chuyên khoa. Tốt nhất là nên phòng bệnh để tránh mọi tai biến cho cả mẹ lẫn con.

Luyện tập thể dục trong thời gian thai nghén

Trong các phương pháp giữ gìn sức khỏe thì phương pháp tập thể dục có ý nghĩa lớn đối với phụ nữ có thai. Thể dục làm cơ thể phát triển, tăng khả năng làm việc của tim phổi, dạ dày, ruột,..

Các bài tập thể dục làm cho cơ thành bụng, khung chậu rắn chắc, tăng quá trình hô hấp, tuần hoàn, tạo điều kiện cho thai nhi có tư thế đứng trong khoang tử cung, sinh đẻ được dễ dàng và sau khi đẻ mau hồi phục sức khỏe.

Những phụ nữ tập thể dục nên biết điều khiển hơi thở để nhanh chóng lấp đầy ôxy cơ thể mình cũng như đứa trẻ sắp ra đời. Sau khi nắm vững các bài tập đã được hướng dẫn, người có thai nên tự tập luyện ở nhà, thời gian không được quá 15 – 20 phút.

Nếu trong khi tập thể dục xuất hiện cảm giác mệt, khó thở, tim đập nhanh, cần phải dừng ngay. Loại trừ các động tác nhảy.

Nên tập vào các buổi sáng hoặc buổi chiều trước khi ăn 1 – 2 giờ, tập trong phòng thoáng mát hoặc nơi có không khí trong lành, quần áo tập phải rộng rãi. Sau khi tập phải tắm rửa, lau người sạch sẽ.

D. Chuẩn bị cho đứa con ra đời

1. Chuẩn bị tã lót và đồ dùng cho con

Trẻ sơ sinh lớn rất nhanh và da rất mỏng vì vậy không nên may sắm cầu kỳ cho con, không nên vải dày, đăng ten câu kỳ thêu thùa rắc rối. Tốt nhất là nên may vải mỏng, vải sợi bông thấm nước, dễ giặt, chóng khô. Có thể may bằng vải quần áo cũ của bố mẹ nhưng phải sạch sẽ và mềm mỏng. Có thể chuẩn bị như sau:

+   4 – 5 áo lọt lòng bằng vải mỏng mềm. Mùa rét thêm vài cái áo len ấm,.

+   3 – 4 yếm dãi may vừa hoặc hơi rộng, có dây buộc sau lưng tránh cài khuy hoặc thắt nút sẽ bị cộm gây khó chịu và ảnh hưởng tới da của đứa trẻ.

+   20 tã chéo, 4 – 5 cái tã vuông bằng vải phin mỏng, 4 – 10 -20 miếng lót bằng xô màn để lót khi trẻ ỉa đái đỡ bẩn ra tã. Có thể dùng giấy vệ sinh loại đã được tẩy hấp kỹ.

+   3 – 5 khăn mặt bằng vải màn (đã được hấp tẩy sạch trước khi dùng) để lau mặt, tắm, lót ở cổ khi trẻ bú và ăn uống ra ngoài.

+   Mũ 2 chiếc, tất chân và bao tay vài đôi.

+   Gối bông thấp và chăn bông nhỏ, nên có hai vỏ chăn, khi trẻ đái ỉa có cái thay.

+   Màn nhỏ, hoặc màn chụp.

2. Đồ dùng gồm:

+   Một chậu tắm

+   Một chậu rửa mặt.

+   Thìa và chén con đẻ uống nước sau khi bú.

+   Chai đựng nước nguội

+   Phích đựng nước sôi.

+   Xà phòng thơm của trẻ con.

+   Thuốc mỡ.

+   Phấn rôm.

+   Cồn 90° để bôi rốn khi cần, acgron 1% để rỏ mũi mắt cho trẻ. Thuốc tím, bông hút nước.

Tất cả những thứ này có thể để tại nhà. Chỉ đem theo một số vật dụng cần thiết vào bệnh viện. Sắp xếp vào cái làn nhựa, chờ đến ngày sinh để mang đi ngay khỏi quên thứ này thứ nọ.

3. Chuẩn bị cho việc sinh đẻ

Đến tháng cuối cùng nên đi khám thai lại để xác định ngày sinh và để nghe chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa.

Có thể tự tính lấy ngày sinh của mình theo công thức: Tính lừ ngày kinh cuối cùng lùi lại 3 tháng, cộng thêm 10 ngày: Người mẹ phải nghỉ ngơi trước khi sinh ít nhất 15 ngày.

Nếu đẻ con so nhất thiết phải đến bệnh viện chuyên khoa. Nếu đẻ con dạ cũng không nên chủ quan vì không phải lần nào đẻ cũng giống nhau.

Khi mang thai đến tháng cuối cùng thấy bụng tụt xuống, thấy đau tức ở vùng xương cùng và bụng dưới, đi tiểu nhiều lần. Đó là dấu hiệu của việc sinh đẻ sắp bắt đầu.

Nếu thấy cửa mình ra nhiều nhớt và có chút máu hồng hồng (gọi là máu cá) thì dù chưa đau bụng cũng nên tắm rửa sạch sẽ để đến nhà hộ sinh hoặc bệnh viện ngay.

Lúc này người phụ nữ nào cũng có tâm lý vừa mừng vừa lo. Mừng vì sắp được làm mẹ còn lo thì không nên, phải trấn an tinh thần để không gây ra hồi hộp, tim đập nhanh, ảnh hưởng tới sức khỏe

Thực ra quá trình sinh đẻ cũng là những hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể người phụ nữ.

Quá trình sinh đẻ được chia làm ba giai đoạn: Mở cổ tử cung, đưa thai nhi rà ngoài và giai đoạn xổ nhau.

–    Giai đoạn mở cổ tử cung ở những phụ nữ sinh đẻ lần đầu kéo dài từ 14 – 15 giờ, ở những phụ nữ đã sinh từ 8 – 10 giờ. Mở cổ tử cung diễn ra dưới tác động co giãn vô ý thức theo chu kỳ (cơn đau). Những cơn co tạo điều kiện cho cổ tử cung co giãn và mở rộng ra.

Mỗi khi có cơn đau, do sự co bóp của hệ cơ cổ tử cung, các mạch máu ở tử cung bị đè ép vừa phải. Chính vì điều đó mà rau bị bao bọc một lượng máu ít hơn và do vậy lượng ôxy đi vào thai nhi không đủ.

Để thai nhi không bị thiếu ôxy, người phụ nữ trong lúc đau cần phải thở thật sâu và đều tạo cho máu của bản thân hấp thụ ôxy được tốt hơn. Trong thời gian đau đẻ có thể ăn chút ít hoa quả hoặc uống nước trái cây để tăng thêm sức lực.

Người mẹ tương lai cần phải nhớ rằng thực hiện những lời khuyên này là giúp cho chính đứa con của mình.

–    Giai đoạn hai là đưa thai nhi ra ngoài, bắt đầu bằng việc mở rộng hết mức cổ tử cung và kết thúc bằng việc chào đời của đứa trẻ. Vào thời điểm này cứ mỗi lần đau là tử cung lại đẩy thai nhi chuyển đặng về phía trước.

Cơn chuyển dạ gắn liền với cơ đau mà khi đó không chỉ cổ tử cung co bóp mà cả cơ bụng và cả thân mình. Thời gian này rất cần đến sức lực của người mẹ, do đó không nên la hét nhiều sẽ bị mất sức nhiều.

Để đứa trẻ mau chóng ra đời, người mẹ càng phải biết gắng sức mình để đẩy đứa trẻ ra ngoài.

–    Giai đoạn ba là giai đoạn sổ rau, kéo dài từ 20 – 30 phút. Trong thời gian này rau tách khỏi thành tử cung và rơi vào âm đạo tạo cho người mẹ ý muốn gắng sức.

Qua vài lần căng cơ bắp không đáng kể, rau thoát ra cùng với màng bọc và phần sót lại của dây rốn. Giai đoạn này có ít máu dây ra do rau tách khỏi thành tử cung.

Sau khi sinh nếu sản phụ không gặp tai biến gì thì cũng nên nằm lại bệnh viện hoặc nhà hộ sinh mấy ngày để các nhân viên y tế theo dõi cả mẹ lẫn con. Nhất là những ngày đầu, trẻ sơ sinh cân được sự hỗ trợ của các nhân viên y tế.

Kiến thức cơ bản giúp bạn trở thành bà mẹ thông thái
Đánh giá bài viết này

Chức năng bình luận đã bị đóng